bảo hiểm nhân thọ và ly hôn

Giải quyết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi ly dị

Bạn đọc hỏi:

Anh Nguyễn Văn T, 30 tuổi có tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại công ty bảo hiểm X.

  • Số tiền bảo hiểm: 1.000.000.000 VND (một tỷ đồng)
  • Phí bảo hiểm: 20.000.000 VND/ 1 năm (đã đóng đủ phí định kỳ).
  • Anh Nguyễn Văn T là: Người Mua Bảo Hiểm đồng thời là Người Được Bảo Hiểm.
  • Trong hợp đồng ghi rõ vợ anh là: Người thụ hưởng.
  • Hợp đồng có hiệu lực: 16/01/2020.

Ngày 16/05/2020, 2 vợ chồng ra toàn ly dị (tòa đã ra quyết định ly dị).
Đến ngày 13/07/2020, anh T tử vong do tai nạn.
Sau khi anh T mất, vợ anh đến công ty bảo hiểm X yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho chị.

Có ý kiến cho rằng:

Nếu đơn ly dị của 2 vợ chồng đã có phán quyết của tòa án, nghĩa là giữa chồng và vợ sẽ không còn mối quan hệ để được bảo hiểm kể từ thời điểm đó. Do đó khi người chồng đã chết thì sẽ phân theo luật thừa kế.
Về mặt pháp lý chị và anh T không còn sự ràng buộc về quan hệ vợ chồng với nhau nữa. Nên người hưởng quyền lợi thừa kế khoản tiền bảo hiểm trên là bố mẹ anh T.

Ban biên tập sau khi tham khảo ý kiến luật sư, xin trả lời:

Trường hợp 1:

Nếu trong bán án dân sự của tòa án trong vụ xử ly hôn giữa anh T và vợ anh ta không đề cập tới cái hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (do anh T hoặc vợ anh ta không đề cập đến và không có yêu cầu gì nên tòa không xem xét) thì khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra đương nhiên người thụ hưởng đứng tên trong hợp đồng bảo hiểm phải là người được lĩnh số tiền bảo hiểm đó.

Về những nguyên tắc, qui tắc trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và về bên Luật kinh Doanh bảo hiểm chị vợ hoàn toàn có cở sở để là yêu cầu công ty giải quyết quyền lợi cho mình.

Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
Một số hợp đồng có điều khoản về thụ hưởng theo hàng thừa kế hoặc điều khoản người thụ hưởng kế tiếp, nhằm xác định nếu chủ hợp đồng khi không xác định người thụ hưởng thì công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho người thừa kế theo trật tự đã được xác định theo hàng ưu tiên.

Ví dụ, điều khoản về người thụ hưởng theo thừa kế sẽ đưa ra trật tự về những người thụ hưởng: vợ hay chồng của người được bảo hiểm, nếu còn sống; tiếp theo là con cái của người được bảo hiểm, nếu còn sống; sau đó là bố mẹ của người được bảo hiểm, nếu còn sống. Nếu không có người nhận từ danh sách đó còn sống, thì tiền bảo hiểm được coi như tài sản được thừa kế của người được bảo hiểm. Như vậy chị ấy vẫn đứng tên trong hợp đồng bảo hiểm đó với tư cách là người thụ hưởng hợp đồng này, chị hoàn toàn có thể chứng minh là tại thời điểm giao kết hợp đồng chị vẫn có thể là người có quyền lợi bảo hiểm.

Khi người được bảo hiểm chết, người thụ hưởng có quyền được đảm bảo trong quyền lợi hợp đồng và người chủ hợp đồng không thể tước đoạt quyền lợi này của người thụ hưởng.

Trường hợp 2:

Hợp đồng bảo hiểm là một khoản tài sản hay nói cách khác HĐBH nhân thọ này là tài sản mà tòa cần xem xét đến khi xử li hôn (nếu đương sự đề cập đến), khi đó vấn đề người thụ hưởng sẽ được tòa đưa vào nội dung bản án trên cơ sở thỏa thuận của 2 bên đương sự. Trong trường hợp có sự thay đổi về người thụ hưởng thì anh T phải thông báo cho Công ty bảo hiểm để điều chỉnh bằng sửa đổi bổ sung. Trường hợp này khi anh T chết thì căn cứ theo HĐBH và các giấy tờ liên quan để công ty thanh toán tiền bảo hiểm.

Theo điều 578 Bộ Luật dân sự qui định: ” Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm“.

Theo khoản 2 điều 82, Bộ Luật dân sự: “Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”.

Theo Ðiều 676. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Xem thêm: 
Bảo hiểm tạm thời là gì?
Bảo hiểm truyền thống và Bảo hiểm Liên kết chung

Theo BHNT